Từ tháng 12/2014, dự án Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức cơ sở 2 được khởi công tại tỉnh Hà Nam nhưng sau đó dở dang, bỏ hoang “đắp chiếu” trong suốt một thời gian dài, nguyên nhân vì đâu?
Thanh tra Chính phủ đã chỉ ra 3 nguyên nhân chính dẫn đến 2 Dự án đầu tư xây dựng mới cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đắp chiếu trong 10 năm.
Theo Kết luận thanh tra, 2 dự án trên được Bộ Y tế phê duyệt và quyết định đầu tư với tổng mức đầu tư 9.958 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách nhà nước 9.000 tỷ đồng; quy mô mỗi dự án 1.000 giường bệnh. Thời gian thực hiện dự án ban đầu từ năm 2014 đến năm 2017.
Năm 2019, Bộ Y tế có quyết định gia hạn đến hết năm 2020, sau đó năm 2023, tiếp tục có quyết định gia hạn đến hết năm 20.
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, 2 Dự án thực hiện 11 gói thầu tư vấn với tổng giá trị hợp đồng 53,38 tỷ đồng (trong đó gói thầu tư vấn lập dự án của 2 Dự án (TV4/2014, TV5/2014) có giá trị hợp đồng 45,59 tỷ đồng, chiếm 85% giá trị hợp đồng của 11 gói thầu); 8 mục chi khác với giá trị 507,82 triệu đồng; giá trị san lấp mặt bằng 5,69 tỷ đồng.
Trong Giai đoạn thực hiện đầu tư: 2 Dự án thực hiện 10 gói thầu xây lắp chính theo dạng hỗn hợp (mỗi dự án 05 gói thầu) với tổng giá trị hợp đồng đã ký 5.725,7 tỷ đồng (trong đó có 02 gói thầu (XDBM-01, XDVĐ-01) có giá trị lớn nhất 4.389,9 tỷ đồng, chiếm 76,6% giá trị hợp đồng của 10 gói thầu); 61 gói thầu tư vấn khác với tổng giá trị hợp đồng 4,7 tỷ đồng (trong đó 02 gói thầu (TVBM-04, TVVĐ-04) có giá trị hợp đồng 103,44 tỷ đồng, chiếm 66,8% giá trị các hợp đồng tư vấn); chi phí QLDA 50 tỷ đồng (mỗi dự án 25 tỷ đồng); riêng Dự án CS2 BVBM thực hiện được 01 gói thầu mua sắm thiết bị y tế (sau đây viết tắt là TBYT) - ký hiệu gói thầu TBYT BM-01 với giá trị ký hợp đồng 51,4 tỷ đồng.
Về nguyên nhân chính dẫn đến việc chậm hoàn thành 2 dự án, Thanh tra Chính phủ xác định rõ , cụ thể là:
Thứ nhất, vi phạm pháp luật về xây dựng trong việc lập, thẩm định, phê duyệt 02 Dự án dẫn đến nội dung dự án còn nhiều hạn chế, thiếu nội dung quan trọng theo quy định, làm tăng tổng mức đầu tư, phát sinh việc điều chỉnh thiết kế cơ sở, điều chỉnh danh mục thiết bị ngay sau khi một số hợp đồng được ký kết theo đề nghị của các nhà thầu và bệnh viện (BVBM và BVVĐ), gây khó khăn và làm kéo dài thời gian thực hiện.
Thứ hai, vi phạm pháp luật về đấu thầu, xây dựng trong việc lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu năm 2014 đối với 2 Dự án, nhất là việc phân chia các gói thầu không hợp lý, không căn cứ vào tính chất kỹ thuật, trình tự thực hiện và tính đồng bộ của dự án.
Ngoài ra, việc tách nội dung thiết kế kiến trúc (là 1/9 nội dung của thiết kế xây dựng theo quy định của pháp luật xây dựng) thành gói thầu riêng để chỉ định nhà thầu nước ngoài thực hiện, các nội dung thiết kế còn lại do đơn vị tư vấn trong nước thực hiện, đã làm mất tính tổng thể, tính đồng bộ trong quá trình triển khai thực hiện, gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc.
Đặc biệt là việc lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm tăng thời gian và phát sinh chi phí xây dựng trong quá trình thực hiện 02 Dự án.
Thứ 3, vi phạm pháp luật về đấu thầu, xây dựng trong việc lựa chọn, thương thảo, ký kết các hợp đồng xây dựng (XDBM-01 và XDVĐ-01), nhất là việc lựa chọn hình thức hợp đồng hỗn hợp nhưng không cụ thể thuộc loại hợp đồng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 48/2010/NĐ-CP.
Thiếu nhất quán về hình thức hợp đồng giữa các thành phần (có cả đơn giá điều chỉnh và trọn gói).
Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh nhưng không quy định nguyên tắc, thời gian tính điều chỉnh, trình tự, phạm vi, phương pháp, hình thức và căn cứ điều chỉnh giá hợp đồng, cơ sở dữ liệu đầu vào để tính điều chỉnh (khối lượng chi tiết gốc, đơn giá chi tiết gốc) trong khi hợp đồng được ký kết là hợp đồng khung được lập dựa vào thiết kế cơ sở, khối lượng và đơn giá tổng hợp theo m² sàn, theo hệ thống (cơ điện, điều hòa..), theo hạng mục, theo thành phần công việc (khảo sát, lập hồ sơ thiết kế - dự toán, thiết kế bản vẽ thi công..., thi công xây dựng, cung cấp thiết bị công trình); không có dự toán kèm theo.
Không có thỏa thuận cụ thể, chi tiết về các yêu cầu kỹ thuật, cách thức đo đếm khối lượng, số lượng để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán và điều chỉnh giá hợp đồng; một số nội dung quy định trong hợp đồng không rõ ràng, không tuân thủ bất kỳ quy định nào tại các văn bản quy phạm pháp luật về hợp đồng trong hoạt động xây dựng. “Đây là nguyên nhân chính dẫn đến 02 Dự án dừng thi công, không thể triển khai từ tháng 01/2021 đến nay” -Thanh tra Chính phủ chỉ rõ.